GVN Metal Colletion [2009]





Hiển thị kết quả 1 đến 2 trên tổng số 2
  1. #1
    Ngày tham gia
    20-11-2004
    Bài viết
    2,142
    Rep Power
    45

    GVN Metal Colletion [2009]

    Cuối cùng,sau bao ngày dày công chuẩn bị thì cuối cùng GVN Metal Collection 2009 cũng đã được ra mắt .

    Chủ trương của các Metalhead là không cầu kì hoa lá, không nói nhiều nên đi thẳng vào vấn đề luôn, nhưng trước đó là vài dòng cảm ơn các anh em đã đóng góp cho cái Collection này .


    Death: SLH + Tên truy cập (info)
    Gothic: Hoàng mèo + SLH
    Thrash: Tên truy cập
    Heavy: SLH + Tên truy cập (info)
    Prog: NIZ
    Power: NIZ
    Doom: masterxmetal + NIZ
    Viking/Folk: NIZ
    Black: Hoàng mèo

    Edit + Upload : NIZ





    1. Death Metal:

    1. Benighed – Foetus
    2. Arch Enemy – The Immortal
    3. Decapitated – Spheres of Madness
    4. Deicide – Dead by Dawn
    5. Carcass – Heartwork
    6. Nile – Sacrifice Unto Sebek
    7. Cannibal Corpse – Hammer Smashed Face
    8. Necrophagist – Intestinal Incubation
    9. Death – Lack of Comprehension
    10. Anata – Entrophy Within
    11. Aborted – Organic Puzzle
    12. Dark Tranquility - Iethe

    Mở đầu Death Metal Collection là một track khá lạ, FoetusBenighted. Benighted có thể nói mặc dù chưa phải nằm trong những tên tuổi bây giờ nhưng khá được biết tới trong giới underground với lối chơi khá chắc tay. Chơi brutal death/grindcore, một điều thú vị là trong đội hình của Benighted có xuất hiện một tay guitar gốc Việt – Liem “Litchee” Nguyen.


    Nối tiếp là The Immortal của Arch Enemy, nhưng sẽ không phải là vocal nữ của Angela Gossow mà là tay original vocalist - Johan "Liiva" Axelsson. Track nằm trong Burning Bridges, album cuối cùng của Johan Liiva với Arch Enemy, ngoài vocal thì điểm sáng giá nhất vẫn là bộ đôi guitar của anh em Michael – Christopher Amott, vốn là đặc trưng của Arch Enemy.


    Tên tuổi technical đến từ Ba Lan – Decapitated với track Spheres of Madness. Với hạt nhân cũng là hai anh em Waclaw “Vogg” Kieltyka (guitar) và Witold “Vitek” Kieltyka (drum), nhưng một điều đáng buồn là Vitek đã qua đời trong một tai nạn xe cộ, khi xe bus của Decapitated đâm phải một xe tải chở gỗ. Track này như một tribute dành cho Vitek – you’ll not be forgotten.


    Deicide, chắc chắn cái tên không còn lạ lẫm gì đối với những metalhead. Cầm đầu bởi Glen Benton với tư tưởng sặc mùi anti-christ và satanism. Tất nhiên với Dead by Dawn thì cũng nhuốm mùi tư tưởng trên, giống hầu hết tất cả các track còn lại của Deicide.


    Tiếp theo là Carcass với Heartwork. Track này gắn liền với nhóm được coi như tiên thần của Arch Enemy, album đầu của Carcass chơi grindcore, khiến cho tên tuổi của band gắn liền với những grindcore band nổi tiếng như Napalm Death, Anal Cunt... Các album sau của Carcass chơi melodic death khá tốt.


    Ithyphallic metal - từ để Nile tự nói về thể loại của mình. Đến từ South Carolina, Mỹ, Nile được coi là một trong những technical/brutal band tiên phong từ năm 2000s. Nổi bật với kiến thức sâu rộng về lịch sử và truyền thuyết Ai Cập của Karl Sanders tạo nên âm hưởng riêng cho chất nhạc của Nile cùng với trống blast beat và double bass dồn dập (minh chứng bằng những cái tên Derek Roddy, Tony Laureano và George Kollias), drop A tuning guitar đặc trưng. Và Sacrifice Unto Sebek sẽ là phù hợp nhất để thể hiện Nile.


    Hammer Smashed Face, nhắc tới cái tên thôi cũng có thể biết đây là signature song của band nào. Cannibal Corpse, một trong những death metal band lâu đời nhất của Mỹ tới từ Tampa, Florida. Hiện vẫn đang hoạt động và sản xuất album liên tục. Album mới đây – Evisceration Plague đánh dấu sự trở lại của style nhầy nhụa vốn có của Cannibal Corpse.


    Necrophagist thành lập bởi Muhammed Suiçmez – thiên tài của sự nỗ lực với trình độ guitar kinh khủng của anh. Intestinal Incubation như một showcase của khả năng vocal/guitar của Muhammed. Thành lập từ 1992 tới giờ, nhưng technical/prog death band này mới cho ra đời 2 album, bù lại thì cả hai đều rất đáng nghe.


    Lack of Comprehension
    – track quen thuộc đánh dấu tên tuổi của Death cùng với music video của mình nằm trong album Human (1990). Cha đẻ của death metal – Chuck Schuldiners kết hợp cùng một line-up vô cùng lí tưởng với Steve DiGiorgio (bass), Paul Masvidal (guitar) cùng Sean Reinert (drum), hầu hết tất cả những tên tuổi từng xuất hiện với Death sau này đều thành danh.


    Tiếp tục dồn dập với Anata qua Entrophy Within. Đến từ Thụy Điển, technical band này là một sự kết hợp độc đáo giữa Gothenburg sound và một chút phong cách pha thêm Jazz của Cynic hay Atheist. Với chất nhạc và lối chơi khá độc đáo, Anata rất đáng để nghe.


    Chất giọng bầy nhầy của Sven de Caluwe bắt đầu qua Organic Puzzle của Aborted. Đến từ Bỉ và thành lập từ năm 1995, Aborted có một cộng đồng fan đông đảo đến nỗi có cả tên riêng – Aborted Army. Nằm trong album đầu tiên của Aborted (The Purity of Perversion – 1999), phản ánh lối chơi mạnh mẽ của Aborted, lyric mang ảnh hưởng từ gore, giọng ca ụt ịt của Sven de Caluwe. ******* Hail Aborted NOW!


    Track cuối cùng là Iethe của Dark Tranquility xuất hiện khá nhẹ nhàng phản chiếu lại bức tranh dồn dập và điên cuồng từ các track trước. Một trong 3 band tiên phong cho melodic death metal cùng với In Flames và At the Gates xuất hiện trong collection này. Một track vừa fit để kết thúc Death Metal Collection.







    2. Gothic Metal:


    1. The Boy in the Attic (Green Carnation)
    2. Forever Failure (Paradise Lost)
    3. Despair-Ridden Hearts (Sentenced)
    4. Air (Charon)
    5. Raven Land (Lake of Tear)
    6. Vote for Love (Tiamat)
    7. Somewhere (Within Temptation)
    8. Glaes of Summer (Sirenia)
    9. Until the Dark (The Sin of Thy Beloved)
    10. Mourning Tree (Leaves's Eyes)
    11. Apart (Lacrimosa)
    12. Distant Sun (Lacuna Coil)
    13. Eversleeping (Xandria)




    1. Green Carnation: Bông hoa cẩm chướng xanh xuất hiện năm 1990, tới từ đất nước Nauy. Band chơi Gothic/Progressive Metal/Rock; trong đó chất Progressive là chủ đạo. Đội hình của band hiện tại đã tan rã, nhân tố duy nhất còn lại của Hoa Cẩm Chướng Xanh là Tchort (Terje Vik Schei) - Guitarist của band.



    2. Paradise Lost: Tới từ vùng Yorkshire thuộc Vương quốc Anh vào năm 1988. Cái tên Paradise Lost của ban nhạc bắt nguồn từ bản anh hùng thi "Paradise Lost" của thi sĩ người Anh John Milton. Ban đầu, band được biết tới là một band nhạc chơi Doom/Death. Sau này họ đã chuyển hướng qua Gothic Rock/Metal.


    3. Nỗi buồn, sự mất mát, sự cô độc trong cuộc sống thường ngày của mỗi người là chủ đề được sử dụng thường xuyên trong những album của nhóm nhạc có vai trò khai sáng cho gothic metal, Sentenced. Họ đã quyết định tự phán quyết cái chết cho chính mình khi tung ra The Funeral Album vào năm 2005 sau gần 20 năm xuất hiện trong làng metal thế giới. Despair-Ridden Heart là một ca khúc trong album này với lyric chứa đựng một chút giới thiệu về chính ban nhạc. Họ đến từ rất xa, Phần Lan, đất nước có diện tích chỉ bằng một bang của nước Mỹ. Kể từ khi thành lập đến khi tan rã, nhóm trải qua rất nhiều biến động về thành viên nhưng họ đã duy trì được sự thành công trong suốt sự nghiệp của mình:

    We came so far, we came so far
    So deeply wounded and so scarred our despair-ridden hearts
    Frail as we are, frail as we are


    Điểm nhấn của ca khúc chính là đoạn dồn trống phối hợp cùng riff ở giữa bài, đưa nhịp điệu chậm rãi lên cao rồi kết thúc bằng một câu như lời cam kết của chính các thành viên Sentenced:
    Firmly united we will stand 'til the world falls apart



    4. Charon: Band nhạc này thành lập năm 1992 tại Phần Lan. Những demo ban đầu của band chơi Death Metal; song từ khi Juha-Pekka Leppäluoto gia nhập thì band hoàn toàn trở thành 1 band Goth Metal. Juha-Pekka Leppäluoto còn là thành viên của Northern Kings - ban nhạc chuyên cover những bản pop từ thập niên 80.


    5. Lake of Tears: Band nhạc tới từ Thụy Điển, thành lập năm 1992 này có lẽ không còn xa lạ với các Goth-head và metalhead; vì album Forever Autumn là 1 album gần như bất kỳ Goth-head/metalhead nào cũng từng nghe qua.


    6. Tiamat: Khởi đầu sự nghiệp năm 1987 với cái tên Treblinka, chơi Black Metal; những chàng trai Thụy Điển quyết định đổi tên nhóm thành Tiamat - Nữ thần chính trong hệ thống các thần của người Babylon xưa cũng như hệ thống thần thoại của người Summerian; cùng với đó, họ chuyển hướng dòng nhạc mình chơi thành "The Beast" Gothic Metal vào năm 1989 và giữ nguyên từ đó tới nay.


    7. Within Temptation: Thành lập năm 1996 tại Hà Lan với tâm điểm là chất giọng ngọt ngào của Sharon den Adel. A truly "beauty" Gothic Metal band! Sharon còn là guest-vocalist của rất nhiều project, trong đó nổi bật nhất là project 1 band thực sự nên nghe cho những người yêu Gothic Metal, nhất là Gothic Metal dòng The Beauty!


    8. Sirenia : Một band Gothic Metal tới từ Nauy. Band được thành lập vào năm 2001 và thứ âm nhạc của Sirenia nhanh chóng chiếm được cảm tình của làng Gothic Metal.


    9. The Sins Of Thy Beloved: Thành lập năm 1996 tại Nauy. Âm nhạc của TSOTB mang một không khí lạnh lẽo và u ám, đi kèm với đó là giọng nữ sắc lạnh, ma quái và giọng nam gầm gừ như ác quỷ. Âm nhạc của TSOTB thực sự vô cùng ấn tượng cho bất kỳ Goth-head nào. Band đã im hơi lặng tiếng khá lâu ,hiện chưa có thông tin chính thức về tình trạng của band, tuy nhiên; theo như Napalm Records thì một album mới đang được thu âm. Một tin đáng mừng cho các Goth-head! Chúng ta hoàn toàn có quyền hy vọng vào sự trở lại ấn tượng của TSOTB.



    10. Leave's Eyes: Thành lập năm 2003 bởi người đẹp Mắt Lá Liv Kristine Espenæs cùng chồng là Alexander Krull. Tất cả thành viên của band (trừ Liv Kristine) đều chơi trong band nhạc của Alexander: Atrocity. Giọng ca đặc biệt của Liv là điểm nhấn cho âm nhạc của Leave's Eyes, Liv cũng là ex-vocalist của band nhạc Theater of Tragedy, vốn không hề xa lạ với giới Goth-head.



    11. Lacrimosa: Có lẽ không cần nói gì thêm về Lacrimosa, không chỉ là một tượng đài của Gothic Rock, Lacrimosa còn là người tiên phong cho Dark Wave Rock... Thành lập vào năm 1990 bởi Tilo Wolff, sau này thêm một thành viên khác là Anne Nurmi, gia nhập năm 1994.


    12. Lacuna Coil: Thành lập năm 1996 tại Italy. Lacuna Coil luôn được chào đón bởi những Goth-head vì những cống hiến của họ cho Gothic Metal của Ý nói riêng và Gothic Metal thế giới nói chung.



    13.Xandria: Thành lập năm 1997 tại Đức;giọng ca của Lisa Schaphaus cũng như âm nhạc của Xandria đã chiếm được cảm tình của rất nhiều Goth-head.Lisa Schaphaus đã rời band nhạc vào 1/5/2008.









    3. Thrash Metal:


    1. Exodus - Piranha
    2. Sepultura - Beneath the Remains
    3. Annihilator - Alison Hell
    4. Metallica - Ride the Lightning
    5. Testament - Alone in the Dark
    6. Kreator - When the Sun Burns Red
    7. Slayer - Raining Blood
    8. Megadeth - Tornado of Souls
    9. Destruction - Upcoming Devastation
    10. Sodom - Remember The Fallen
    11. Overkill - Horrorscope
    12. Susperia - Chemistry


    Với mở màn là Piranha của Exodus sẽ không còn gì ấn tượng hơn. Còn gì ngọt ngào hơn bắt đầu bằng một nhịp trống điên đảo kèm theo đó là một câu riff không kém gì lắt léo. Sức mạnh của Exodus được thể hiện qua hết album đầu tiên (Bonded by Blood – 1985), ngoài tốc độ thì chất giọng đặc trưng của Paul Baloff cũng tăng gấp bội sự điên loạn cho chất nhạc Exodus.


    Sau khi được chào đón bằng loài cá Piranha hung dữ thì tiếp đến sẽ là một chút acoustic chào hàng cho dễ thở của Beneath the Remains của Sepultura. Và khi giọng hát của Max Cavalera cất lên thì đảo lộn hoàn toàn, bằng những câu riff liên tục và drum dồn dập của Igor như kéo dài bất tận.


    Tiếp theo là Alison Hell, chắc hẳn ai nghe thrash cũng phải biết tới bài này. Kết hợp những gì được cho là xuất sắc của Annihilator, xuất phát bằng sự đan xen giữa những đoạn acoustic âm u cho tới heavy riff. Có vẻ bài hát sẽ chỉ là sự thể hiện kỹ thuật của Jeff Waters nhưng người nghe cũng phải chú ý đến giọng hát falsetto của Randy Rampage.


    Đối với nhiều người, tên tuổi của Metallica lúc nào cũng gắn với Master of Puppets – landmark album của họ để khẳng định thể loại thrash. Nhưng không thể nào bỏ qua Ride the Lightning, mang đủ những yếu tố để đưa vào thrash list này, bao gồm chất giọng đặc trưng của James Hetfield, những câu solo rất quái của Kirk Hammett, và đương nhiên là khâu rhythm của Cliff Burton và Lars Ulrich.


    Khi điểm tới Metallica, ta không thể nào bỏ qua Testament. Sở hữu một lead guitarist và rhythm guitarist xuất sắc nhất (Alex Skolnick và Eric Peterson), cùng với một giọng ca đầy sức mạnh Chuck Billy. Alone in the Dark là một track tiêu biểu trong album The Legacy (1987) với riff chính khá là melodic, cùng với một đoạn solo xuất sắc của Alex Skolnick.


    Khi bóng tối qua đi, mặt trời bắt đầu cháy đỏ. Khá giống các track trong thrash list này, When the Sun Burns Red của Kreator được bắt đầu bởi một đoạn acoustic khá là... nhẹ nhàng, trước khi bước vào sự dồn dập, tàn bạo đan xen giữa tiếng trống và guitar, đánh dấu bằng một tiếng gào thất thanh của Mille Petrozza. Là track mở đầu của Coma of Souls (1990), cũng đóng góp bằng một đoạn solo khá là bắt tai.


    Mưa đỏ thắm như máu, và chắc hẳn Raining Blood là ca khúc được biết đến nhiều nhất như một thương hiệu của Slayer. Tiếng guitar khô như ngói song song giữa Kerry King và Jeff Hanneman, nhịp trống mạnh mẽ và nặng nề của Dave Lombardo, cùng kiểu shouting vocal style quen thuộc của Tom Araya đi tiên phong cho khá nhiều band thrash sau này.


    Lyric mang phần nói về quan hệ cá nhân, mang một chút hài hước châm biếm nhưng chua xót của nhân vật nam sau khi bị nhân vật nữ lừa tình. Tornado of Souls chứa đựng những tinh hoa của Megadeth, với kiểu snarling vocal style cùng catchy riff mang đầy giai điệu của Dave Mustaine, đoạn solo được coi là “finest solo” của Marty Friedman cùng sự kết hợp nền hài hòa tuyệt vời giữa Nick Menza và David Ellefson. Tất cả mang lại một Tornado of Souls đầy màu sắc và là một trong những best thrashy song.


    Nằm trong album Eternal Devastation (1986) của Destruction và đóng vai trò như title track – đó là Upcoming Devastation. Mặc dù chỉ là một đoạn instrumental nhưng lại thể hiện hầu hết những gì đặc sắc nhất của Destruction. Bắt đầu là guitar work với những đoạn heavy riff từ lắt léo, dồn dập cho tới nhanh gọn, catchy riff đánh dấu bằng sự thay đổi tempo liên tục. Không hề thiếu tốc độ trong sự tàn bạo của Destruction.


    Hai cái tên Kreator và Destruction được nêu ra khiến người ta mong chờ nhắc tới cái tên thứ ba trong ba con khủng long thrash Đức – Sodom. Remember the Fallen tuy không mang tốc độ điên đảo hay sự cục súc nhưng vẫn lôi cuốn người nghe. Mang một nửa là rockish ballad, một nửa là phong cách thrash của Sodom, một track xứng đáng nằm trong list.


    Đến Overkill, The Years of Decay (1989) vô cùng xuất sắc thì sau sự ra đi của guitarist Bobby Gustafson, Overkill lại cho ra đời một bộ mặt mới trong album Horrorscope (1991). Không còn những câu solo rất sloppy, hay những đoạn riff nhanh chóng mặt, thay vào đó những đoạn riff rất nặng nề, tempo được hạ xuống được thực hiện đan xen bởi 2 guitarist Merritt Gant và Rob Cannavino. Trong Horrorscope, ấn tượng nhất là đoạn solo độc đáo và không thể thiếu D.D Verni với đoạn intro bằng distorted bass.


    Kết thúc sẽ là Chemistry của Susperia nhằm chấm dứt một chuỗi phản ứng hóa học từ đầu tới giờ. Susperia là một tân binh mới đến từ Norway được sáng lập từ năm 2000. Trong đó có một cái tên nổi bật là Tjodalv (Dimmu Borgir). Mang một phong cách thrash khá mới mẻ, với đoạn intro khá lạ lẫm, Chemistry dừng lại khi mà người nghe vẫn muốn thưởng thức thêm...









    4. Heavy Metal:


    1. Black Sabbath – N.I.B.
    2. Dio – Holy Diver
    3. Judas Priest – Painkiller
    4. Metal Church – Metal Church
    5. Ozzy Osbourne – Crazy Train
    6. Danzig – Mother
    7. Skid Row – Youth Gone Wild
    8. Manowar – Kings of Metal
    9. Motörhead – Overkill
    10. Iron Maiden – Wrathchild
    11. Killers – Dream Killer
    12. Saxon – Princess of the Night
    13. Fight – For All Eternity

    Heavy Metal Collection sẽ bắt đầu viết lại lịch sử 40 năm bằng sự mở đầu của Black Sabbath qua track N.I.B. Ban nhạc đầu tiên và đặt nền móng cho sự khởi đầu cho heavy metal, Black Sabbath như là một huyền thoại sống. Bố già Tony Iommi cũng tiên phong và là ảnh hưởng cho những metal guitarist sau này, hay Ozzy Osbourne cũng vậy. Thật là thiếu sót nếu bạn nghe những thể loại nặng hơn như death, black, thrash mà bỏ qua gốc rễ lịch sử của chúng.


    Người Ý đã thể hiện ảnh hưởng sâu sắc của mình đối với nước Mỹ như Joe Satriani hay John Petrucci (như lời của Not Being – vnrockworld) và hiện thân lớn nhất vẫn là Dio. Từng tham gia Black Sabbath, hay Rainbow cùng Ritchie Blackmore đi nữa thì đều là những mốc thành công trong sự nghiệp của ông. Và Dio cũng có một ban nhạc của riêng mình để tụ hợp tất cả những tinh hoa. Một phần trong số đó sẽ được minh chứng bởi Holy Diver.


    Nếu Black Sabbath là ông tổ sáng lập của heavy metal, thì Judas Priest đã khẳng định thể loại bằng cách triệt giảm yếu tố blues trong heavy metal. Giọng ca falsetto đặc trưng của Rob Halford hay là phong cách motorbiker, những đoạn lead hay solo đan xen nhanh chóng mặt của Glenn Tipton và K.K. Downing. “Metal God” sẽ xuất hiện trong collection này với signature song – Painkiller.


    Nhắc đến Metal Church thì luôn thể hiện sự kính trọng thiêng liêng của Kurdt Vanderhoof đối với heavy metal. Dù là Heavy, Power hay Thrash đi chăng nữa thì track Metal Church trong album cùng tên luôn xứng đáng xuất hiện trong collection này. Cũng giống như là trong mỗi một metalhead đều có một khoảng trời riêng dành cho heavy metal vậy.


    Ở trên đã có Black Sabbath và Dio, thì ắt hẳn phải có cái tên Ozzy Osbourne. Rất nhiêu tay hảo thủ guitar lừng lẫy như Randy Rhoads, Jake E.Lee, Steve Vai, Alex Skolnick hay Zakk Wylde... Nhưng Crazy Train thì vẫn vậy, đều đều song hành cùng những buổi live show của Ozzie như một signature song không thể thiếu. Sẽ thật hẫng hụt khi thiếu track này trong collection.


    Khởi đầu và hình thành từ năm 1987 tới nay, mặc dù chặng đường không phải là dài nhưng Danzig vẫn khẳng định được tên tuổi của mình trong thể loại heavy metal. Phong cách heavy metal của Danzig có một chút thú vị với blues-based guitar riff, ảnh hưởng từ doom cùng giọng hát khỏe và đầy giai cảm của Glenn Danzig trái ngược với thời kỳ của ông ở Samhain. Và Danzig cũng sẽ xuất hiện ngay đây với Mother.


    Tương phản với hình ảnh của những band heavy metal thường với lyrical themes là cái chết (Death), tôn giáo (Religion) hay thậm chí là sex... thì sự xuất hiện của Skid Row ở những năm cuối 80s - đầu 90s như thể hiện một khía cạnh gai góc của cuộc sống, hay tuổi trẻ với những classic track đi vào lòng người nghe như 18 & Life, Wasted Time, I Remember You... trong đó tiêu biểu nhất chính là Youth Gone Wild.


    Có thể người nghe hay phân vân giữa heavy và power khi phân định thể loại của Manowar. Nhưng Kings of Metal vẫn hiện diện trong collection này. Chất epic đặc trưng với những thần thoại Norse cổ xung quanh thần Odin, thần Loki... đậm chất hào hùng và tráng lệ. Một điều khá là hay ho khi Manowar cũng là một ban nhạc giữ hai kỷ lục cho ban nhạc ồn ào nhất (xác lập trong một buổi biểu diễn năm 1994 tại Hanover, 129.5 dB) và buổi trình diễn dài nhất (2008, ở Bulgaria, 5.1 tiếng).


    Trong số những band heavy metal thành công nhất không thể thiếu Motörhead với Overkill. Thành lập năm 1975, với nòng cốt là tay bassist/vocalist Lemmy Kilmister. Cùng với Judas Priest thì Motörhead đã xây dựng hình ảnh và phong cách đặc trưng của heavy metal – vòng gai, xích và sừng. Lối chơi nhanh, mạnh và tốc độ của Motörhead đã ảnh hưởng cho khá nhiều band nhạc thrash/speed sau này, và một số band nổi tiếng cũng cover lại Overkill như Metallica, hay thậm chí còn là tên một thrash band tiên phong.


    Sẽ vô cùng thiếu sót và ân hận khi bỏ quên Iron Maiden, người anh cả tiên phong cho New Wave of British Heavy Metal (NWOBHM) mà sau này tạo ra làn sóng ảnh hưởng cho khá nhiều ban nhạc thành danh sau này. Giọng ca qua đào tạo opera của Bruce Dickinson, dual lead guitar giữa 2 guitar và sau này là 3 (Dave Murray, Adrian Smith và Janick Gers) là đặc trưng cho Iron Maiden, tất cả đều nằm trong track Wrathchild.


    Một trong những heavy metal vocalist nổi tiếng và ảnh hưởng nhiều nhất, cùng với Ozzie và Dio – đó chính là Paul Di’Anno. Từng tham gia khá nhiều ban nhạc, trong đó có cả Iron Maiden, nhưng xuất sắc nhất có lẽ là Killers (1990-1997, 2001-2003) với thành phần hầu hết là thành viên ban nhạc trước của Paul Di’Anno – Battlezone. Mặc dù thời gian hoạt động không dài nhưng Killers cũng để lại dấu ấn trong collection này với Dream Killer.

    Saxon cũng là một trong những ban nhạc thắp sáng cho làn sóng NWOBHM với rất nhiều thành công trong thập niên 80s tại Anh và sau này là cả Mỹ và Nhật Bản. Với một đội hình khá là ổn định theo thời gian, Saxon vẫn tiếp tục hoạt động mạnh mẽ. Tất nhiên trong một discography đồ sộ thì chỉ có thể chọn ra một track, đó chính là Princess of the Night. Ngoài 10 triệu album trên khắp thế giới thì Saxon cũng là nguồn ảnh hưởng tới đàn em Metallica, Megadeth và thậm chí hair metal band Motley Crue.


    Cuối cùng sẽ lại là một project band của Rob Halford trong thời gian giải tán khỏi Judas Priest. Đó là Fight cùng For All Eternity. Từng biểu diễn với Pantera (Rob Halford chính là ảnh hưởng của Phil Anselmo), khác với Judas Priest thì Fight mang thêm một chút hardcore/crossover tạo cảm giác mới mẻ thay máu cho người nghe.









    5. Progressive Metal:


    1. Another Day (Dream Theater)
    2. Hope Leaves (Opeth)
    3. Out of myself (Riverside)
    4. The Accolade (Symphony X)
    5. Act III:Comfort Me (Shadow Gallery)
    6. I remember (Psychotic Waltz)
    7. The Burden is mine...Alone (Green Carnation)
    8. Promisses (Adagio)
    9. The words unspoken (Andromeda)
    10. Blackest Eyes (Porcupine Tree)
    11. Ocean Bed (Communic)
    12. Second Love (Pain of Salvation)
    13. Aegean Shores (Pagan's Mind)
    14. Liquid Eternity (Ayreon)
    15. All that i bleed (Savatage)
    16. Pilot in the Sky of Dreams (Threshold)
    17. YYZ (Rush)







    Dream Theater - 1 band nhạc huyền thoại! Với tôi cũng như nhiều tín đồ của DT thì album thứ 2 Images and Words mãi là 1 tác phẩm tuyệt vời nhất của họ. Không chỉ kĩ thuật mà còn đầy ngẫu hứng. Trong đó bản Ballad Another Day thật đẹp, nhẹ nhàng và êm dịu - guitar, organ và saxophone hòa trộn vào nhau lúc mạnh mẽ, lúc sâu lắng. Hãy biết cách đối diện với cuộc sống này, bạn sẽ thấy cuộc sống trở nên dễ chịu và tươi sáng hơn - đó là thông điệp được gửi đến những người nghe.



    Opeth Metal! Chỉ qua 2 từ trên bạn đã thấy phần nào sức ảnh hưởng của Opeth. Vâng, đừng gọi họ chơi Prog, Death-Prog hay Prog-Death mà là Opeth Metal. Sức sáng tạo của Mikael Åkerfeldt và Peter Lindgren lần lượt thể hiện qua những Still Life, Morningrise, Blackwater Park hay Deliverance. Nhưng Damnation quả là 1 bước đột phá mới lạ - theo tôi đó là 1 album thuần Prog nhất của Opeth. Hãy nghe Hope Leaves để thấy được cái hồn của album này.



    Riverside
    - 1 band đến từ Ba Lan, vùng đất lạ của thế giới Prog. Sau 2 track trên, nghe Out of myself, 1 track dài có 3 phút 44 giây, bạn sẽ thấy khác hẳn. Vocal đẹp đến gai người. Trống và đặc biệt là bass hừng hực thật hưng phấn, nhưng không hề làm mất đi độ ma quái không thể hiểu nổi của track này. Nội dung thì thật u ám nhưng khi nghe track này lại chả thấy buồn gì cả, chỉ thấy rất là kích động. 1 track đáng nghe với bất kì 1 fan Prog nào.



    The Devine wings of Tragedy là 1 album đã đưa Symphony X lên đỉnh cao. Trong đó tôi chú ý đến track The Accolade, nếu như đoạn dạo đầu thật êm dịu, thật bình yên thì phần còn lại nổi bật là vocal, bass và keyboard phối hợp rất ăn ý. Cũng dễ hiểu khi người viết lyric - Miller cũng chính là bassist tài năng của Symphony X. Chỉ có điều track này hơi thiếu điểm nhấn, thiếu những đoạn riff đỉnh cao.



    Prog Metal nổi tiếng với những Concept Album tuyệt đỉnh. Một trong những fav concept album của tôi là Room V của Shadow Gallery. Không còn từ nào ngoài từ hoàn hảo có thể diễn đạt trọn vẹn được album này. Track Comfort Me mở đầu bằng tiếng Piano đơn giản, nhẹ nhàng nhưng vẫn đẹp. Tôi thì ấn tượng nhất màn duet hoàn hảo của Mike Baker và Laura Jaeger. Acoustic guitar,piano và sáo chấm phá thêm những điểm nhấn tuyệt vời. Quá hoàn hảo!



    Psychotic Waltz - Dường như chất nhạc album Social Grace đã miêu tả thật rõ nét cái tên của band. Một Prog band ko nhiều người nghe ở VN. Và cũng có điều lạ là cái album Social Grace mang nội dung phản chiến. Sự kết hợp này thật mới lạ. Đặc biệt trong I remember có 1 đoạn sáo solo... kinh điển. Devom Grace có một chất giọng thật mê hoặc, nó làm tôi nhớ đến ...Skid Row. Kết hợp với nền nhạc acoustic guitar, sáo đó đã là cả hồn của bài hát này.




    Green Carnation - "Vì điều gì giản dị, thât giản dị mà khiến ta cảm động, thì tự thân nó đã đẹp. Album The Acoustic Verses của GC - là như thế."

    Track tôi thích nhất là The Burden is mine...Alone.

    Phải, nó như 1 giấc mơ vậy, nghe xong liệu bạn có đồng cảm với tớ không, 1 sự tiếc nuối,chỉ muốn nó đừng dừng lại.
    Nó đẹp và mong manh quá.

    Cả bài hát chỉ có vocal và tiếng acoutic guitar với văng vẳng đâu đây tiếng guitar điện như tiếng gió - như tên của album vậy mà nó gây 1 cảm giác buồn đến não nề đến vậy.



    Adagio chơi Prog Symphonic Metal,nhưng có nhiều nét tương đồng với Symphony X. Underworld xứng đáng là 1 masterpiece, thấm đẫm chất Neo Classic - như là cấu trúc, giai điệu và nhịp, 1 lead, 1 bass, 1 guitar và 1 vocal. Đặc biệt là track Promisses, là một sự kết hợp tài tình giữa Prog và Classic.



    Ngược lại, album Extension of the wish của Andromeda lại là vùng đất màu mỡ để họ phô diễn kĩ thuật. Giai điệu và sự ngẫu hứng ko phải là vấn đề chủ chốt,mà được giảm xuống mức tối thiểu có thể để làm nổi bật "technical và virtous instrumental". Xuyên suốt cả track The words unspoken là những đoạn riff đầy uy lực, mạnh mẽ và tốc độ. 1 track cực hợp với những "technical Mind"



    Nói đến Porcupine Tree là các Metalhead đều nghĩ đến ngay đến Steven Wilson, linh hồn, thủ lĩnh của PT. Là vocalist, guitarist, composer và producer, âm nhạc của PT mang đậm dấu ấn của SW. Trong đó, album In Absentia là một album chơi máu lửa nhất của Porcupine Tree. Blackest Eyes là một track nổi bật của album này. Một sự lựa chọn quá tốt cho những ai mới bắt đầu nghe Prog cũng như Porcupine Tree vì nó khá dễ nghe.



    Communic - 1 band rất ấn tượng, đặc biệt là với album Conspiracy in Mind. Guitar chơi kĩ thuật, ngẫu hứng và đầy sáng tạo. Nghe thử Ocean Bed - những đoạn "super speedy heavy Riff" đúng là phê và quá ấn tượng. Trống cũng chơi ko kém phần. Và có 1 điều bạn nên nhớ,Communic chỉ có 3 người!



    Nhắc đến Pain of Salvation,có lẽ ko cần nói nhiều. Nếu có 1 cái gọi là Big Four của Prog hẳn họ cũng có 1 chân. Bản lĩnh và sáng tạo, những concept album của PoS như Entropia, One Hour by the Concrete Lake, hay Remedy Lane,... đều thuộc vào hàng khủng bố. Đặc biệt phải kể tới Remedy Lane, một câu chuyện bi kịch tình yêu ở thành phố Budapest. Giữa 2 đứa bé, một lên 10, một lên 12. Chúng bị bỏ rơi và lớn lên cùng nhau rồi yêu nhau. Những con người khốn khổ... Xin trân trọng giới thiệu bản Ballad Second Love trong concept này.




    Pagan's Mind là 1 nhóm Prog hay, nhưng ít được biết đến ở VN. Có 1 điều là họ chịu nhiều ảnh hưởng của Dream Theater, từ cách sáng tác các ca khúc cho đến kĩ thuật. Trong đó phải kể đến album Celestial Entrance - 1 album tuyệt vời - từ vocal, guitar, background guitar, bass cho đến drum và key. Đậm chất Prog và thoang thoảng đâu đó tí Power. Track Aegean Shores là 1 track đậm prog nhất trong album này - dù cho tempo của nó cực nhanh như các band Power thường chơi nhưng chú ý đến các dấu hiệu khác như cấu trúc của giai điệu, các đoạn riff, nhịp drum,... thì có thể khẳng định đây là prog track tuyệt vời.




    Ayreon
    không phải là 1 band mà là 1 Project do Arjen Anthony Lucassen Arjen lập ra, tự sáng tác nhạc, hòa âm, phối khí từ đầu đến cuối và mời các guest vocalists tham gia vào các album. Thật đáng kinh ngạc vào chất lượng của các concept album. Như ở album này, khách mời của Lucassen là Daniel Gildenlow (Pain of Salvation), Hansi Kursch (Blind Guardian) và Ty Tabor (King’s X), toàn những cái tên quá nổi tiếng. Âm nhạc của Ayreon rất là "ảo", rất fantasy và đều được đóng dấu không lẫn vào đâu được, nội dung thì cao xa, khó có thể nghe vài lần mà hiểu hết được. Hãy thử track Liquid Eternity này xem.



    All that I bleed là 1 bản Ballad tuyệt hảo trong album Edge of Thorns của Savatage. Vocal cuốn hút và mạnh mẽ của Zak + tài năng guitar của Criss Oliva (cũng là album cuối cùng có mặt Criss vì sau đó anh chết bởi tai nạn xe hơi) + piano làm nền, tất cả hòa vào nhau thật nhẹ,thật đẹp. Giản đơn mà giàu cảm xúc là tất cả những gì có thể nói về All that I bleed.



    Trong làng Prog Metal thì cái tên Threshold đã tạo ra cho mình 1 thương hiệu, 1 dấu ấn riêng. Các album của Threshold chơi đều tay và đều được đánh giá rất cao. Theo cảm nhận riêng thì tớ thích cái Dead Reckoning nhất - và cực kì có ấn tượng với 10-minutes-track Pilot in the Sky of Dreams. Mở đầu track, guitar chạy chầm chậm theo nền key - tiếng key ảo và dường như là 1 đặc trưng của Threshold dưới bàn tay của Richard West kết hợp với vocal rất mượt mà. Great work!



    Rush - 1 band nhạc có ít nhiều ảnh hưởng tới dòng Prog Metal hiện giờ. Họ chơi 1 thứ gọi là Prog Rock/Prog Hard Rock/Prog Metal. Theo cảm nhận của tớ, track YYZ trong album Moving Pictures của họ là 1 track cực kì kĩ thuật - dù không có nhiều ấn tượng về mặt giai điệu. Tất nhiên không thể so sánh về kĩ thuật giữa những năm 80 với hiện tại vì trang thiết bị giữa 2 thời là khác nhau. Một bản instrumental duy nhất trong prog list đã khép lại 17 track đầy đam mê.

    Have fun!










    6. Power Metal:


    1. Save Us (Helloween)
    2. Holy Light (Stratovarius)
    3. Serenade (Kamelot)
    4. Rise of the Morning Glory (Edguy)
    5. The Misery (Sonata Arctica)
    6. Wings of Destiny (Rhapsody of Fire)
    7. Bleeding Heart (Angra)
    8. Valley of the Damned (DragonForce)
    9. Alone (Warmen)
    10. Somewhere Far Beyond (Blind Guardian)
    11. Fiddler on the green (Demons & Wizards)
    12. Somewhere in Dreams (Dark Moor)
    13. Cheyenne Spirit (Edenbridge)
    14. Kingdom of the Fearless (Virgin Steele)
    15. Master of the Wind (Manowar)




    1. Helloween là 1 tên tuổi lớn của dòng Power Metal. Trong đó bộ đôi album Keepers of the Seven Keys: Part 1 và Part 2 được đánh giá là một trong những album tiêu biểu. Hãy nghe thử guitar của Hansen và vocal của Kiske - 1 giọng cực khủng và chất, hát nhanh, chậm, lên cao xuống thấp tùy ý qua track Save Us.



    2. Cái tên Stratovarius dường như được nhiều dân ngoại đạo của rock biết đến bởi những bản... Ballad tuyệt vời. Dù vậy không nghe những bản đậm chất Power của Strato là 1 điều quá lãng phí. Vẫn biết Power dễ nghe mau chán và nhạc của Strato là thuộc loại nhanh chán nhất nhưng không thể phủ nhận tài năng của họ. Nhất là qua 2 album Vision và Destiny! Thử bản instrumental Holy Light trong album Vision đi.



    3. Cái tên Kamelot chắc chắn không xa lạ gì với những người nghe Power Metal. Nếu như album Karma là đỉnh cao của họ - nhưng track Serenade trong The Black Halo lại gây ấn tượng hơn cả. Đậm chất melodic Power!




    4. Edguy được coi là chàng hoàng tử của Power Metal. Sức sáng tạo của Tobias Sammet và các đồng đội quả thật đáng nể. Một trong những album hay nhất của Edguy theo tôi là Hellfire Club - và track tôi chú ý đó là Rise of the Morning Glory. Trong album này,Tobias ngày càng hoàn thiện khả năng của mình so với những Mandrake hay Theater of Salvation lúc trước.




    5. Âm nhạc Sonata Arctica được gọi là "Flower Metal" - vì nó đẹp quá, nó nhẹ nhàng và mỏng manh. Trong album Winter Heart's Guild chỉ có 2 track ballad đó là Draw Me và The Misery thì chúng đều quá tuyệt cả.



    6. Rhapsody (Rhapsody of fire) là 1 band Power Metal đỉnh cao nhất trong nhánh Symphonic. Không chỉ âm nhạc mà nội dung cũng rất giàu chất lượng. Những câu chuyện thần thoại, nối tiếp nhau thật hào hùng và hoành tráng. Symphony of Enchanted Lands cũng giống như cái album đầu tiên, kết hợp giữa clear operatic vocal, những đoạn điệp khúc dùng dằng + guitar, keyboard solo. Đẹp và chuẩn



    7. Bleeding Heart - 1 bản Ballad xuất sắc, tràn đầy cảm xúc của Angra - 1 Power/prog band đến từ Brazil.



    8. DragonForce - extreme power Metal. Kĩ thuật guitar của cặp "song sát" Herman và Sam quả là tuyệt diệu! Speed thì trâu, kĩ thuật solo thì kinh hồn. Drum cũng ko kém - trong suốt 7 phút của Valley of the Damned, Didier đã đánh với tốc độ 240 bpm! Nghe mà rạo rực hết cả người. Một track hay nhất của DragonForce. Key và vocal cũng hay đều. Mọi thứ đều hoàn hảo.




    9. Track Alone trong album Beyond Abilities (một neo-classical metal masterpiece!) của Warmen chỉ là một cover và được hát bởi một khách mời - Kimberly (vocal và key của Therion). Thậm chí nó là một track ít chất metal nhất của album này. Dù vậy thì tôi vẫn không cưỡng được 1 niềm yêu thích đặc biệt với nó. Khá là ấn tượng với giọng hát của Kim.




    10. Giọng của Hansi chính là linh hồn của Blind Guardian, "without him, Blind Guardian would be a good, but not great band". Giọng Hansi rất khỏe và 1 trong những power metal 's vocalist hàng đầu, guitar của Blind chơi cũng khá tốt còn bass và drum chỉ ở mức trung bình khá. Track Somewhere Far Beyond trong album cùng tên là 1 bài chơi đều tay và ấn tượng.



    11. Demons & Wizard - 1 cái tên có lẽ ít người biết đến. Nhưng Vocal của D&W chính là Hansi, vocal của Blind Guardian nên là chuẩn không cần chỉnh. Trong album cùng tên của họ, track tuyệt nhất là Fiddler on the Green, trên nền acoustic guitar du dương, miên man, Hansi như đang kể truyện vậy. Một cảm giác thật thoải mái và thư giãn khi nghe Fiddler on the Green, bạn thả lỏng mọi cơ bắp và để cho đầu óc của mình tự do....



    12. Dark Moor - Một power metal band đến từ Tây Ban Nha. Album The Hall of the Olden Dreams chơi có chút phần hoài xưa, dễ nghe và hay hơn Shadowland. Chất Symphonic chứ không phải melodic mới là được thể hiện rõ rệt ở album này đặc biệt là ở track Somewhere in Dreams, đoạn solo ở đoạn cuối làm tôi nhớ đến Rhapsody of Fire. Giọng của Elisa quả thật rất gud và ấn tượng.



    13. Edenbridge ra đời vào khoảng thời gian mà Nightwish và Within Temptation đang vào thời kì cực thịnh (3 band này có cấu trúc giống nhau - vocal nữ hát giọng opera, melody rất rộng và hoành tráng). Bản thân Sabine cũng bị so sánh với Tarja và Sharon nhưng theo cảm nhận riêng của tôi thì tôi vẫn thích Sabine nhất. Giọng của Sabine trong vắt và cao vút, không những thế dường như Sabine sinh ra là để hát nhạc của Edenbridge và ngược lại. Cũng không thể không nhắc đến tài năng Lanvall - guitar/keyboard/người sáng tác của Edenbridge. Nhạc của họ cũng đẹp đẽ như chính cái tên vậy. Thử album đầu tay Sunrise in Eden xem sao.



    14. Có nhiều điều muốn nói mà khó bật ra thành lời về Virgin Steele. Thứ âm nhạc của họ quá trí tuệ và thấm đẫm lịch sử - mỗi album như 1 bài học vậy nhưng không mất đi chất cuồng bạo của 1 heavy/power metal band. Chưa có band Power nào nghe xong khiến tôi thấy mệt như VS. Như album The House of Atreus: Act 1 - một bản trường ca với 22 track dài 74 phút. Vocal và chất epic gợi nhớ nhiều đến Manowar. Dường như mọi thứ đều hoàn hảo và không có gì thừa.


    15.Manowar - Một trong những metal band đầu tiên mà tôi nghe cho nên giờ nhớ lại vẫn còn có nhiều cảm xúc đọng lại. Cũng là một trong những cái tên quá quen thuộc ở VN. Thứ âm nhạc họ chơi là 1 thứ nhạc cuồng bạo đến điên cuồng của 4 trái tim rực lửa sẵn sàng đánh đổi tất cả để đến với Metal, đến với True Metal - vâng, không phải Power, không phải Heavy cũng không phải Epic mà là True Metal! Nổi bật trong đó là tay bass Joey de Maio - tay bass yêu thích nhất của tôi. Tuy vậy Manowar không phải là không có nhược điểm - họ chỉ có 1 lead guitar duy nhất nên tiếng guitar của Manowar xem ra.. khá nghèo nàn. Xin giới thiệu 1 bản Ballad hay nhất của Manowar đó là Master of the Wind.









    7. Doom Metal:


    1 .Sinking bell (Sunn o))))
    2. As Autumn Call (Estatic Fear)
    3. Solitude (Candlemass)
    4. I Long (Saturnus)
    5. Awaken (Novembers Doom)
    6. My Wine in Silence (My Dying bride)
    7. Midnight Mountain (Cathedral)
    8. Half Light (DoomVS)
    9. Gothic (Paradise Lost)
    10. Fragile Dreams (Anathema)
    11. Quiet World (Katatonia)
    12. 12 Days of Rain (October Tide)
    13. Iron Man (Black Sabbath)
    14. Vampiric Serenade (How Like a Winter)
    15. Shadow of Our Pale Companion (Agalloch)
    16. Come Pierrot (Novembre)

    1. Sunn o))) band nhạc drone quá nổi tiếng này thì không cần giới thiệu, ai nghe drone đều phải biết band này. Band gồm 2 thành viên Stephen O'Mailey và Greg Anderson, band thành lập năm 1998. Mỗi khi xuất hiện trên sân khấu Sunn o))) luôn khoác một tấm áo choàng như thần chết, các khách mời của họ cũng vậy.

    Không ít thì nhiều các bạn cũng đã biết đến thể loại drone doom, một sub genre của doom. Đến với drone là đến với sự hủy diệt, những âm thanh chát chúa, không hề có khái niệm guitar solo, verse hay chorus. Chỉ có duy nhất một âm thanh rè rè từ guitar, cứ thế đưa người nghe vào không gian như bất tận. Tiếng guitar nghe như từ một nơi nào vọng đến.

    Về độ dài thì khỏi nói, trung bình một bài của các band drone đều hơn 13 phút, dưới 13 phút là intro. Một ca khúc có thể chỉ có một đoạn guitar lập đi lập lại đến hết bài, không hề có quy luật nào cho âm nhạc của drone cả.

    Và bài Sinking Belle của Sunn o))) thì hoàn toàn khác, có thể gọi bài này chơi theo phong cách drone country, hay drone ballad cũng được. Tuy nhiên chất drone vẫn hiện diện trong âm nhạc của Sunn o))). Sunn o))) trong bài này khác hẳn với Sunn o))) mọi khi, mở đầu bài hát là một khúc dạo đầu của Greg nhẹ nhàng trầm lắng và đầy cảm xúc. Rồi đến Stephen O'Mailey, nhưng anh không chơi guitar hay bass mà anh chơi piano. Từng nốt từng nốt nhẹ nhàng cất lên. Bass và trống vào cuộc, bass đệm từng nốt như ru ngủ người nghe kết hợp với trống đánh khá nhịp nhàng, và tổ hợp âm thanh ấy cứ vang lên đều đặn phút này qua phút khác. Đến vocal, khách mời của Sunn o))) là nữ ca sỹ country Jesse Skyes, thật sự chẳng biết cô nàng này là ai, nhưng giọng hát thì tuyệt nhẹ nhàng, ấm cúng và rất là hứng.

    Passing by (thời gian trôi qua)
    Rose and emeralds (hoa hồng và viên ngọc)
    In silence I (trong sự yên lặng tôi…)
    Stand alone (…đứng cô đơn)

    Những ca từ của một chàng trai bị sắc đẹp của một cô gái quyến rũ, anh ta luôn nghĩ cô ta là người hoàn hảo, nhưng thực ra cô ta là người lừa dối và giả tạo. Để rồi khi nhận ra thì anh đã bị cô bỏ rơi.

    The sinking belle (chìm đắm trong sắc đẹp)
    Oh the sinking belle
    I'm worried now? (tôi đang lo lắng)
    You're worried now? (bạn đang lo lắng)
    I…(tôi…)

    Kết thúc bài hát chỉ còn lại nỗi cô đơn, doom là vậy luôn mang một nỗi buồn mà không thể loại nào diễn tả được. Một bài hát có thể đi vào tâm hồn của người nghe, len lỏi trong đầu họ, để rồi lúc kết thúc họ thấy cô đơn và trống trải. Ôi! Sinking belle, chìm đắm trong sắc đẹp của thứ drone mà Sunn o))) tạo ra.




    2. Estatic Fear

    Thành lập năm 1994 band doom metal tài hoa bạc mệnh này đã cho ra đời 2 tuyệt tác.
    Somnium Obmutum (1996)
    A Sombre dance(1999)
    Rồi như không thể vượt qua được 2 tuyệt tác này, band đã ra đi hiện không rõ - không một lời từ biệt các doomhead. Để lại trong lòng người hâm mộ biết bao tiếc nuối.




    3. Candlemass (Solitude)

    Nếu nói black Sabbath khởi đầu cho doom thì người đặt nền móng chính là Candlemass, album Epicus Doomicus Metalicus làm cả thế giới phải biết đến một dòng nhạc u uất nhất từ trước đến nay: Doom Metal. Tuy nhiên Candlemass lại rất lận đận về nhân sự, năm 1990 sự ra đi của Leader Malcon, đã làm ban nhạc khá lao đao, tuy nhiên những gì mà họ để lại không hề nhỏ.

    Tuyệt tác của traditional doom: Solitude. Mở đầu với đoạn ascoutic guitar u buồn, rồi vocal cất lên những lời ai oán của một kẻ cô đơn bước đi trên con đường không người. Tiếp đến là một đoạn riff đúng chất doom: chậm, dây trùng hết cỡ…

    Vocal tiếp tục đưa người nghe vào một thế giới cô độc,sự cô đơn luôn hiện hữu, bao quanh lấy tất cả chúng ta rồi từ từ chìm vào trong đoạn solo của guitar, nghe não nề và đau đớn vô cùng.

    Có lẽ sẽ rất ít metalhead ở gamevn nghe Candlemass vì nhạc của họ ít cảm xúc, Trad doom là thế, có thể coi họ là một band heavy metal nhưng guitar chơi chậm và vụng về, hay trad doom là bắt đầu cho cả một dòng nhạc, mà mỗi khi nghe nó có cảm giác như bị nhấn chìm vào bong đêm sâu thẳm. Mỗi người một cảm nhận về trad doom thôi.



    4. Saturnus
    Một band Melodic death/doom đến từ Đan Mạch,thành lập năm 1991, có lẽ album Veronica Decide to Die (2006) là album được nhắc đến nhiều nhất khi nhắc đến saturnus. Mở đầu bằng một tuyệt tác I long, nghe xong mà muốn chết đi cho rồi, nghe buồn không tả nỗi.

    Và album Veronica Decide to Die cũng là một album must have cho ai muốn tìm hiểu doom nhá, cứ nghe đi, hay không đỡ nỗi đâu.




    5. Novembers Doom

    Một trong những band death doom mà tui thích nhất, mỗi album là một thế giới mà khi bước vào đó rồi thì chỉ muốn stay forever với thứ nhạc mà họ đem lại, vừa dữ dội lại vừa êm đềm như Opeth vậy,thứ cảm xúc đó chỉ có Novembers doom và Opeth có thể tạo ra được.

    Album The Knowing là album thứ ba của họ, và cũng là album đầu tiên tôi nghe của November doom. Mở đầu là một bản instrument hay nhất của doom mà tôi từng nghe.

    Awaken, có lẽ mọi người nên nghe và cảm nhận, vì instrusment không có nhiều thứ để nói, mỗi người một cảm nhận thôi.





    6. My Dying Bride (My Wine in Silence)

    My Dying Bride cái tên luôn được (bắt buộc phải) nhắc đến khi nói về death/doom, một dòng nhánh từ doom, death doom giống như một loại extreme doom vậy. My Dying Bride là band nhạc mà các band funeral doom lấy đó làm cảm hứng. Tuy không phải band khai phá ra death doom, nhưng họ lại đem death doom lên một tầm cao mới, thoát khỏi underground để đến với các metal head.
    -
    My Dying Bride có rất nhiều bài hay, rất rất nhiều, nhưng tui lại chọn bài My Wine in Silence để đưa vào collection này, vì sao ư, do bài này quá buồn chăng, hay cái giai điệu cứ ám ảnh hằng đêm khi tôi lắp cái headphone vào và những âm thanh ấy cứ vang lên mỗi đêm. Tui cũng chẳng biết nữa. My Wine in Silence như bản doom buồn nhẹ nhàng đưa tôi vào bóng tối với ly rượu trên tay, chợt nhận ra người mình yêu đã ra đi rồi. Lại là tình yêu, tình yêu khiến con người đau khổ, đau đớn, nhưng vẫn yêu. Thật khó hiểu.

    Mở đầu bài hát là một đoạn piano u ám, và cứ thế đoạn piano này cứ như trôi mãi đến phút cuối của bài hát. Tiếp đến là guitar và trống, với một giai điệu buồn guitar như đưa ta vào một không gian mà chỉ còn một mình và chai rượu. Aaron bắt đầu cất giọng ca trầm ấm của anh lên, Aaron là một trong những vocal mà tui thích nhất trong metal, anh có thể hát được nhiều giọng mà không dung effect.

    Where are you now my love?
    My sweet one
    Where have you gone oh my love?
    I’m so alone

    I’m only think of you
    And it drive me down
    I only dream of you

    Những ca từ cất lên từ một con tim đau đớn, khi nỗi nhớ tràn về ôm lấy anh ta, tất cả bây giờ mà anh ta có chỉ là sự cô đơn, vocal dùng giọng clean nghe rất buồn. Rồi guitar như đổi style, một bầu không khí đe dọa ập đến, hay là vì không có người mình yêu bên cạnh anh ta đã hóa điên. Vocal chuyển sang giọng grow, nghe mà buốt tai, như không thể có được người yêu anh ta đã làm mọi cách để giữ cô ấy lại.

    I’ll come to you, Take my hand.
    Hold me again, please take my hand.

    Rồi như không thể làm gì hơn, anh ta chỉ mong nắm được bàn tay người mình yêu, mong được ôm lấy nàng. Nhưng tất cả chỉ là ảo vọng, cuối cùng chỉ còn anh và ly rượu.



    7. Cathedral
    Band nhạc của Lee Dorian, một tượng đài của doom, nhắc đến anh ta là cả một câu truyện dài. Ban đầu Lee là vocal của Napalm Death,rồi khi Lee gặp Mark, 2 người chia sẻ niềm đam mê doom cho nhau, rồi họ lập ra Cathedral. Một band nhạc mà style của nó vô cùng lạ lẫm lúc bây giờ. Lee với chất giọng thú vật, cục súc của mình đã tạo nên những track mà khi ai nghe nó đều thốt lên kinh ngạc. Nhạc thì chậm hết mức, vocal thì gào điên dại. Họ thật sự mang lại cho doom một sinh khí mới. Nhưng về sau này thì Cathedral chuyển sang stoner doom.

    Midnight Mountain, không có gì nhiều để nói về bài này nhá. Cứ nghe và phê thôi, guitar, trống bass, cứ đều đều, tạo cho ta một cảm giác lâng lâng, như phê thuốc vậy.



    8. Doom:VS là 1 one-man band của tay guitarist của Draconian - Johan Ericson. Thế nên việc thấy những điểm tương đồng của 2 band này là điều dễ hiểu. Johan đã cho thấy Doom không chỉ đơn giản là guitar chơi nhịp chầm chậm, vocal gầm gừ. Sức sáng tạo và cảm xúc được anh gửi vào từng nốt nhạc. Album Dead Words Speak thực sự là rất gây ấn tượng.


    9. Paradise Lost

    Một trong bộ ba đến từ nước anh ở phía tây Yorkshire. Có một ai đó đã nói, nếu bạn chơi death doom hay funeral doom thì chắc chắn bạn phải tới từ Yorkshire hay phần lan.

    Paradise Lost đã tạo ra một style mới cho doom, gothic doom.
    Với album Gothic (1991) họ đã đưa tên tuổi mình bay cao trong bản đồ metal. Mà đặc biệt là track cùng tên album. Một track tuyệt đỉnh, vocal grow, guitar thì bay vút, giọng nữ bè nghe hoành tráng. Keyboard lúc đe dọa lúc xoa dịu, và không thiếu sự hào hùng.

    Mới nghe doom cứ tìm ba band này mà nghe: My Dying Bride, Paradise Lost, Anathema.



    10. Anathema
    Lại là bộ ba đến từ nước Anh, cũng như 2 người đồng hương trước, Anathema ban đầu cũng là một band death doom, về sau thì band chuyển hướng sang atmospheric rock.

    Có lẽ album đáng nhớ nhất của họ là Alternative 4 (1998) với tuyệt phẩm Fragile Dreams, cũng không có gì để nói về track này, nghe và cảm nhận thôi.



    11. Katatonia

    Band nhạc đến từ Thụy Điển, thành lập từ năm 1991, khó có thể tìm được một định nghĩa chính xác về thể loại mà họ chơi. Xuất phát cũng là một death doom band, có lúc chơi gothic metal, có lúc trad doom, có lúc chơi gothic… Ôi kể không hết với Katatonia.

    Mỗi một album là một trải nghiệm mới của band về metal. Các bạn cứ tìm nghe hết các album của họ đi, sẽ không thất vọng đâu.



    12. 12 Days of Rain là ca khúc ảm đạm nhất trong album Rain without End của October Tide – 1 band nhạc tách ra từ Katatonia. Dường như mưa là 1 chủ đề yêu thích của Doom – nhất là những cơn mưa kéo dài tưởng chừng bất tận, u ám làm con người càng trở nên sầu thảm. Melodic và acoustic guitar kết hợp với violin quá tuyệt diệu. Những ai thích mưa và Doom Metal hẳn ko thể bỏ qua tác phẩm này.



    13. Black Sabbath (Iron Man)
    Không cần nói chắc ai cũng biết bố già metal Black Sabbath,band nhạc được xem là ông tổ của metal. Album đầu của Black Sabbath là tiền đề cho heavy metal, nhưng album tiếp theo Paranoid chính là album đầu tiên của doom. Mà nổi bật lên cả là bài Iron Man.

    Mở đầu là tiếng trống từng nhịp từng nhịp một, tiếng effect guitar, tiếp theo là một đoạn riff quá ấn tượng của Black Sabbath, bass vào cuộc, tiếng bass như chạy theo tiếng guitar, nâng guitar lên hết mức có thể. Một mở đầu cho một tuyệt tác. Ozzy cất tiếng hát ma quái của mình lên, giọng Ozzy thì do các bạn nghe và cảm nhận thôi. Đến đoạn solo thì bài hát như chuyển tông sang rock and roll, nghe nhộn sao đó. Tradition doom là dòng doom chơi hơi thô, ít cảm xúc, nên hơi khó nghe.

    Lyrics dựa theo một bộ phim về chuyến du hành vào tương lai của một người đàn ông, ông ta thấy trái đất bị hủy diệt, và ông không biết tại sao, rồi ông ta quay lại hiện tại và tìm cách ngăn chặn sự hủy diệt đó, không ai nghe ông ta mà còn cho rằng ông bị điên. Ông ta tức giận, tìm cách trả thù và cuối cùng ông chính là nguyên nhân gây ra sự hủy diệt của trái đất. Không hiểu lắm về lyrics, nhưng bài này quá tuyệt cho một new doomhead.

    Nếu muốn nghe doom hãy lượm ngay album Paranoid của Black Sabbath. Nếu hứng thú thì album Master of Reality sẽ là đích đến kế tiếp của bạn. All hail Black Sabbath.



    14. How Like a Winter có 1 bản Demo ra năm 2001 đó là The Winter’s Near nhưng ngay lập tức nó đã thể hiện tài năng của band Gothic Doom này. Bài Vampiric Serenade nghe mà tê hết cả người. 1 violin, 1 key, 1 acoustic guitar + với 1 giọng nam và 2 giọng nữ background. Cách kết hợp tinh tế giữa vocal và instrument khiến tôi nhớ đền nhiều band Gothic khác – ví dụ như giọng nam clean, whisper and grunts với violin và giọng nữ với piano. Những ai yêu thích phong cách của My Dying Bride hẳn sẽ không bỏ qua band này.


    15. Có thể nói album The Mantle đã thể hiện chất Doom rõ nhất của Agalloch – 1 banb chơi không thuần Doom. Và điểm sáng của album này là bài In the Shadow of our Pale Companion. 14 phút 45 giây tuyệt đẹp của sự kết hợp Doom Metal/ Dark Metal và Atmospheric Rock. Dạo đầu với 1 đoạn instrumental mẫu mực, trống đánh chậm và chắc nịch, acoustic guitar kết hợp với e-guitar đầy sức mạnh. Chất ngẫu hứng và quyến rũ của Atmospheric – một cảm giác khiến bạn như lên cơn phê thuốc khiến tôi nhớ đến Anathema. Great Song!



    16.Novembre là 1 band có cá tính và đã tạo dựng được cho mình 1 lối chơi riêng,1 phong cách riêng.Có nhiều tranh cãi về genre mà họ chơi Melodic Doom Metal hay là Doom/Death có pha lẫn chút ít Atmospheric Rock.Nhưng trong album xuất sắc nhất của họ - Novembrine waltz theo tôi họ thể hiện rõ nhất là chất Melodic Death Metal.Như ai từng nói,vocal là 1 instrument xa xỉ của thế giới Metal – nhất là trong dòng Doom.Nhưng quả thật giọng của Carmelo thật awesome – 1 chút gì đó giữa death growl + clean vocal.Kết hợp với guitar chơi kĩ thuật và giàu giai điệu bậc nhất và lyric quá sâu sắc khiến cho tôi luôn có 1 cảm tình đặc biệt với họ.









    8.Viking Metal :


    1. The Beginning - Týr
    2. Aurinko ja kuu - Moonsorrow
    3. Svart Djup - Finntroll
    4. Ruf in den wind - Equilibrium
    5. Tale of Revenge - Ensiferum
    6. Mjölner - Thyrfing
    7. Till Fjalls - Vintersorg
    8. Ballad of the Swords - Einherjer
    9. Destroy - Windir
    10. Hail me - Mithotyn
    11. When Gjallahorn will sound - Falkenbach
    12. Huomen - Tenhi
    13. The Gael - Cruachan
    14. Hemfard - Månegarm
    15. Kivenkantaja - Moonsorrow


    Nhiều người không coi Viking Metal là 1 thể loại chính mà chỉ coi đó là tính chất của metal nói chung. Nhưng không thể chối bỏ là các band chơi Viking Metal đã khẳng định chỗ đứng của mình trong bản đồ metal thế giới. Xin được giới thiệu 15 track có thể phần nào nói là tinh hoa nhất của dòng Metal này!


    The Beginning là 1 sự khởi đầu hoàn hảo cho Viking Metal Collection. Tinh túy của Týr được tập trung trong album Ragnarok 2006 và phần nào được thể hiện qua track số 1 này. 1 khúc dạo đầu nhẹ nhàng trước khi tận hưởng sự cuồng bạo của Collection này



    8 phút 14 giây là độ dài của 1 bản nhạc đáng được gọi là anh hùng ca - Aurinko ja kuu. Nó mang đậm chất Epic, không gian hoành tráng và dáng dấp cuồng bạo của những chiến binh Viking - trống có thể khiến tim bạn run rẩy, còn giai điệu thì tuyệt hảo,mọi thứ kéo đến dồn dập và ào ạt khiến ta tưởng như ngạt thở. Moonsorrow mãi sẽ vẫn là 1 Viking metal band tuyệt vời nhất với tôi và nhiều Viking-head khác.


    Sau mỗi cơn bão, biển lại trở nên hiền hòa. Để tạm nghỉ lấy sức,chúng ta đến với 1 bản gọi là "ballad" của Finntroll. Svart Djup nhẹ nhàng và sâu lắng khiến tâm hồn tôi cảm thấy yên bình lạ lùng.


    Tiếp theo chúng ta đến với 1 band chơi Epic Folk/Viking Metal. Ko cuồng bạo và mãnh liệt như Moonsorrow hay Thyrfing, lối chơi của Equilibrium phần nào hoa mĩ và màu mè hơn, cũng đúng vì ở album Sagas này Equilibrium đã phần nào đi lệch khỏi đường lối thuần Viking. Dù sao Ruf in den wind (tiếng gọi trong gió) vẫn là 1 track đáng nghe.


    Ensiferum - 1 band Viking với lối chơi đầy kĩ thuật và tinh tế nhưng không hề giảm sự dữ dội và hoang dã trong những tác phẩm của mình. Hãy nghe Tale of Revenge - hãy cảm nhận 1 chất giọng rất ...brutal của tay vocalist Jari.


    Album Urkraft của Thyrfing, dù ít nhiều có chất Black nhưng nó vẫn là 1 tuyệt phẩm của Viking Metal. Trong đó bài tôi ưa thích nhất đó là Mjölner. Vào đầu track là 1 sự im lặng đáng ngờ khiến bạn mất cảnh giác... thế rồi cuồng bạo lại kéo đến, sự giận dữ của người Viking thật đáng sợ. Main vocal khàn đục trái ngược hoàn toàn với clean chorus vocal - nghe đâu đây bạn cảm thấy được tiếng gió rít qua tai.


    Vintersorg được ví như 1 Dream-team trong bóng đá vậy. Được quy tụ bởi nhiều "cao thủ" nên các vị trí của band chơi đều tay, từ clean vocal đến bass, drum hay keyboard. Đọc lyrics trên MA thấy rất duy lí, rất trí tuệ. Điều này cũng dể hiểu khi Vintersorg có pha chút chất prog vào trong. Track Till Fjalls trong album càng tên là 1 sự lựa chọn không tồi.


    Xét về lối chơi Einherjer lại không giống như Moonsorrow, Ensiferum hay Thyrfing mà mang một chất rất riêng của mình, một cái gì đó chắc chắn và điềm đạm. Bản bi anh hùng ca Ballad of the Swords là 1 track tuyệt hảo - bass, 2 lead guitar và drum đã làm quá tốt trong 1 track ngắn ngủi 5 phút này.


    Windir - Một black/folk/viking metal band.Nhắc đến họ là người ta nghĩ đến album 1184 - great work! Destroy là 1 trong những track hung bạo và dữ dội và cũng là tuyệt vời nhất trong album này.

    Hail me as the man of steel.
    Hail me as the son of gods.
    Hail me as the king of yours.
    I am the chosen one.

    Năm 2002 Mithotyn ra "King of the Distant Forest", một tác phẩm tuyệt vời. Track Hail Me - lẫn lộn đâu đó chất Heavy và Power phảng phất.
    Nghe hơi có chút lạ tai với những ai vốn thích Viking Metal thuần chất. Nhưng nó rất đáng nghe.

    Track số 11. Ấn play,mọi thứ như hiện ra rất rõ trên nền nhạc dạo chầm chậm và đôi chút ảo diệu đậm chất folk. Drum chậm,còn lead và bass guitar ko có nhiều điểm đặc biệt. Nhưng chính cái đơn giản ấy lại thể hiện cái chất của When Gjallahorn will sound của Falkenbach.


    Huomen của Tenhi là 1 nốt nhạc lạc lõng với 11 track trước. Vì họ chơi thuần Folk. Acoustic guitar rắt réo, nhịp điệu chầm chậm buồn buồn khiến bạn thấy thật dai dẳng và não nề.

    Khi tôi nghe album Kauan của Tenhi, không hiểu sao tôi lại tưởng tượng ra mình đang ngồi cạnh 1 hồ nước lạnh lẽo còn mưa lây phây, ngồi đó không làm gì cả, ngồi đó ngắm mưa, ngồi bù cho nhịp sống vội vã thường ngày của mình....


    The Gael - track tiếp theo là của Cruachan - Celtic/folk metal. Female vocalist, đàn túi của Ailen,... làm nên những nét riêng của The Gael. Chất Folk quá rõ rệt. Có thể đây là 1 sự thay đổi mới lạ nhưng nghe nhiều sẽ chán.


    Guitar hơi hướng black, chất giọng "quái vật", keyboard hào hùng khiến người nghe cảm nhận được máu Viking sục sôi trong huyết quản mình. Nghe đi,và hãy kiếm vài cái gì đó để đập. Nằm trong album hay nhất của Manegarm là Vredens Tid, Hemfard quả thật chất lượng.


    Một sự ưu ái. Trong mấy Collection như Doom, Prog, Viking hay Power do tớ làm,Moonsorrow là band duy nhất xuất hiện 2 lần. Họ chơi track thứ 2 và là đại diện chơi track cuối cùng, khép lại Collection này. Kivenkantaja, mở đầu guitar ríu rắt làm sao, nhẹ nhàng làm sao như đang ru ngủ bạn. Thì đột nhiên trống vang lên, tỉnh lại đi thôi. Today is the day!

    Trống của tay Marko đập quả là kinh khiếp. Còn main vocal của Sorvali thì "tởm" thôi rồi.

    Không cần nói nhiều vì nó đã là 1 tuyệt phẩm, không còn track nào xứng đáng để khép lại Collection này hơn.

    Hy vọng các bạn sẽ có 1 thời gian thật đau đầu với cái Collection này. Hail Viking Metal!









    9. Black Metal:


    1. Les Iris (Alcest)
    2. Angel's Retreat (Tvangeste)
    3. La Dryade (Gris)
    4. Willothewisp (Ancient)
    5. As i behold the dying sun (Vinterland)
    6. Nostalgia (Nocturnal Depression)
    7. I shall lead you shall follow (Silencer)
    8. Thy Beauty in Candle Light (Ancient Ceremony)
    9. Summoning (Summoning)
    10. Freezing Moon (Mayhem)
    11. A Scream to Express the Hate of a Race (Mirrorthrone)
    12. Morbid Romance (Celestia)
    13. La Muerte Podrida (Cryfemal)



    1. Alcest: 1 side-project của Neige được thành lập vào năm 2000.. Neige đã tạo nên một thứ Black Metal mang nét đẹp đặc trưng của riêng mình... Neige's Black Metal.

    2. Tvangeste: Band thành lập năm 1996 tại xứ sở bạch dương, hiện tại đã ngưng họat động. Black Metal của band mang âm hưởng hùng tráng, hát về nước Nga xưa; về những truyền thuyết cổ, những vị thần...

    3. Gris: Band Black Metal tới từ Quebec, Canada; thành lập năm 2006. Trước đó được biết đến với cái tên Niflheim.

    4. Ancient: Tới từ thánh địa Black Metal - Nauy... Ancient là nơi tụ hội của những con ác quỷ làng Black Metal... Willothewisp trong collection này sẽ chứng tỏ được thứ âm nhạc của những con ác quỷ này là không thể lẫn lộn với bất cứ band nhạc nào khác.

    5. Vinterland : Band Black Metal tới từ Thụy Điển, thành lập năm 1992. Vinterland là 1 band thực sự đáng nghe cho bất kỳ người yêu Black Metal nào. Hiện đã tái hợp sau gần 10 năm tan rã (Theo thông tin từ Myspace của band).

    6. Nocturnal Depression: Mới bước vào làng Black Metal năm 2004, band chọn cho mình một lối đi riêng rẽ - Depressive/Suicidal Black Metal. Thứ DSBM của Nocturnal Depression mang một nét đặc bịêt của họ, và nó đẹp một cách kỳ lạ!

    7. Silencer: Depressive/Suicidal Black Metal band từ Thụy Điển, thành lập năm 1995. Rất nhiều band Depressive/Suicidal Black Metal sau này đã bị ảnh hưởng bởi lối chơi của Silencer và "giọng hát" của Nattramn. "Kẻ im lặng" nay đã im lặng vĩnh viễn sau khi để lại một "Death - Pierce me" đầy ám ảnh cho làng Black Metal...

    8. Ancient Ceremony: Thành lập năm 1989 tại Đức. Band chơi thứ Melodic Black Metal rất riêng biệt và mang nặng tư tưởng Anti-Christ, tôn thờ Satan. Band hiện đã tan rã.

    9. Summoning: Band nhạc tới từ đất nước của Mozart - Áo. Họ chơi Epic/Atmospheric Black Metal với chủ đề chính là "Lord of the Rings" của Tolkien, rất đáng để nghe, nếu bạn đang tự hỏi Black Metal có phải chỉ là một loại nhạc chơi hùng hục như trâu không? Như thế nào là những bản Black Metal bi tráng,hào hùng?


    10. Mayhem: Thành lập tại Nauy từ năm 1984 và họat động từ đó tới nay;một band thuộc hàng gạo cội của làng Black Metal Nauy nói riêng và Black Metal thế giới nói chung.

    11. Mirrorthrone: One-man band tới từ Thụy Sĩ của Vladimir Cochet, thành lập từ năm 2000. Anh còn thực hiện nhiều side project khác; 2 trong số đó là Unholy Matrimony (chơi Black Metal) và Weeping Birth (chơi Brutal Death).

    12. Celestia: Một band Black Metal tới từ Pháp; thành lập năm 1995. Neige từng tham gia project này với vai trò là một guitarist.

    13. Cryfemal: One-man band chơi Depressive Black Metal với tư tưởng Anti-Christ và tôn thờ quỷ Satan. Band được thành lập vào năm 1998 tại Tây Ban Nha.


    Link down cả bộ Colletion:


    - Rock this fuckin' Collection!!!

    Attached Images Attached Images
    Last edited by NIZ; 08-04-2009 at 00:55.
    Don't use this nick anymore.
    There's nothing i can do but move on and keep this emotional pain deep inside my mind.

  2. #2
    Ngày tham gia
    25-04-2005
    Bài viết
    4,020
    Rep Power
    43
    Cập nhật topic vào box Hall of Fame.


Bookmarks

Bookmarks

Quyền hạn

  • Bạn không thể gửi bài mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi kèm files
  • Bạn không thể sửa bài đã gửi
  •  
>